(Công lý) - Để thích hợp với thực tại, đảm bảo việc khắc phục vụ án được đúng mực, khách quan, toàn vẹn, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có những luật pháp mới can dự tới trình tự tố tụng của phiên toà sơ thẩm.
Sự có mặt của bị cáo, người gượng nhẹ tại phiên tòa
BLTTHS năm 2015 qui định chặt chẽ sự xuất hiện của bị cáo, người cãi tại phiên tòa (Yếu tố 290 và Nhân tố 291). Theo đó, bị cáo phải có mặt trong suốt thời gian xét xử vụ án. Bổ sung trường thích hợp Tòa án có thể xét xử vắng mặt bị cáo: Bị cáo đề nghị xét xử vắng mặt và được Hội đồng xét xử hài lòng; nếu sự vắng mặt của bị cáo không vì nguyên nhân bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và sự vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử (Điều 290).
Người bao biện phải xuất hiện tại phiên tòa để bao biện cho người mà bản thân đã kiếm được cãi. Trường phù hợp người bào chữa vắng mặt lần thứ nhất vì nguyên do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án phải hoãn phiên tòa, trừ trường phù hợp bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người gượng nhẹ. Nếu người ôm đồm vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do chướng ngại khách quan hoặc được triệu tập thích hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án vẫn tạo dựng phiên tòa xét xử. Đối với trường hợp chỉ định người bao biện thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử khi người ôm đồm vắng mặt trong trường phù hợp bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người ôm đồm (Điều 291).
BLTTHS năm 2015 bổ sung qui định về sự xuất hiện của người phiên dịch, người dịch thuật, Dò la viên và những người khác (Điều 295 và Yếu tố 296). Khi được Tòa án triệu tập, những người sau đây phải có mặt tại phiên tòa: Người thông dịch, người dịch thuật; Dò xét viên, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thụ lý, giải quyết vụ án; những người khác tới phiên tòa để trình bày các vấn đề can dự tới vụ án.
BLTTHS năm 2015 chi tiết hóa các trường thích hợp hoãn phiên tòa và pháp luật cụ thể các nội dung của quyết định hoãn phiên tòa (Nhân tố 297). Bổ sung các căn cứ hoãn phiên tòa: Cần phải xác minh, tích lũy bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật mà không thể thi hành ngay tại phiên tòa; Cần tiến hành đánh giá bổ sung, đánh giá lại; Cần định giá của cải, định giá lại tài sản và nội dung cụ thể của quyết định hoãn phiên toà.
Giới hạn xét xử
Theo BLTTHS năm 2003, Tòa án chỉ xét xử bị cáo theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố (Nhân tố 196). BLTTHS năm 2015 luật pháp, Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát truy tố sau khi đã trả biển sơ để Viện kiểm sát truy vấn tố lại nhưng Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy hỏi tố. Qui định này nhằm đảm bảo sự độc lập của Tòa án trong xét xử, đảm bảo phán quyết của Tòa án phải trên hạ tầng kết quả xét hỏi, tranh tụng và những bằng cớ đã được rà soát công khai tại phiên tòa.
Một phiên toà hình sự
Nhằm bảo đảm quyền của người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, BLTTHS năm 2015 pháp luật: Thời hạn chuẩn bị xét xử được tính trong khoảng ngày Tòa án thụ lý đại dương sơ vụ án thay vì từ ngày phân công Quan toà chủ tọa phiên tòa như hiện thời (Yếu tố 277). Bổ sung vài thời hạn nhằm bảo đảm mọi hoạt động tố tụng phải bị buộc ràng về thời hạn như thời hạn nghị án là 7 ngày, kể từ ngày kết thúc tranh biện tại phiên tòa (Yếu tố 326). Cụ thể hóa một vài thời hạn có tính định tính trong Bộ luật hiện hành bằng các thời hạn chi tiết (là 24 giờ hoặc 3 ngày kể từ khi ra quyết định), tùy thuộc vào loại quyết định và đối tượng được kiếm được quyết định như: Tòa án gửi quyết định cắt cử Quan toà làm cho chủ tọa phiên tòa, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát trong thời hạn 24 giờ kể trong khoảng khi ra quyết định.
Lớp lang và nghĩa vụ xét hỏi
BLTTHS năm 2003 luật pháp: Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ các diễn biến về từng sự việc và về từng tội của vụ án theo quy trình xét hỏi có lí. Chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi tới các Hội thẩm, sau đó tới Kiểm sát viên, người bao biện, người bảo vệ quyền lợi của đương sự (Vấn đề 207).
Theo BLTTHS năm 2015: Chủ tọa phiên tòa quản lý việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo trật tự có lí. Chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Quan toà, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người cãi, người bảo vệ quyền, ích lợi hợp lí của đương sự chấp hành việc hỏi. Người định giá của nả được hỏi về những trở ngại có can dự tới việc định giá của nả.
Luật pháp này để chấp hành nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo; tăng sự chủ động của Quan toà chủ tọa phiên tòa.
BLTTHS năm 2015 bổ sung cho bị cáo quyền được trực tiếp đặt câu hỏi với các bị cáo khác, bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ, người khiến cho chứng ví như được Chủ tọa đồng ý thay vì đề xuất Chủ tọa hỏi (các Yếu tố 309, 310 và 311).
BLTTHS năm 2015 bổ sung qui định về nghe, xem nội dung được thu thanh hoặc ghi hình có âm thanh (Yếu tố 313). Trường hợp cần rà soát chứng cớ, tài liệu, thiết bị liên quan tới vụ án hoặc khi có bị cáo tố giác bị bức cung, sử dụng nhục hình, Hội đồng xét xử quyết định cho việc nghe, xem nội dung được thu thanh hoặc ghi hình có âm thanh liên quan tại phiên tòa.
Các nội dung của luận tội được qui định cụ thể hơn trong BLTTHS năm 2015. Nội dung luận tội phải phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, hoàn toản những chứng cớ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội; tính chất, mức độ nguy nan cho phố hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi tội lỗi gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; tội danh, hình phạt, ứng dụng điểm, khoản, vấn đề của Bộ luật hình sự, những cốt truyện tăng nặng, giảm nhẹ nghĩa vụ hình sự; mức đền bù thiệt hại, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; khởi thủy, vấn đề kiện tội trạng và những cốt truyện khác có ý nghĩa đối với vụ án; Đề xuất buộc tội bị cáo theo tổng thể hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; buộc phải mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt thòi, xử lý vật chứng; Kiến nghị các biện pháp phòng dự phòng phạm nhân và vi phạm pháp luật.
Luật pháp này nhằm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử; tăng bổn phận của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong việc luận tội.
Hồ sơ tranh luận tại phiên tòa
BLTTHS năm 2015 qui định chi tiết hơn, toàn vẹn hơn (Yếu tố 322): Những người nhập cuộc tố tụng có quyền đưa ra bằng cớ, tài liệu và lập luận của chính mình để đối đáp với Kiểm sát viên về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; thuộc tính, chừng mực nguy hại cho phường hội của hành vi tội lỗi; hậu quả do hành vi tội lỗi gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; những diễn biến tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt; bổn phận dân sự, giải quyết tang chứng, giải pháp tư pháp; căn do, nhân tố kiện tội lỗi và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.
Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cớ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng quan điểm của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa; Hội đồng xét xử phải lắng tai, ghi kiếm được toàn diện quan niệm của Kiểm sát viên, bị cáo, người biện hộ, người tham gia bàn cãi tại phiên tòa để bình chọn khách quan, trọn vẹn sự thực của vụ án. Trường thích hợp không ưng ý ý kiến của những người tham gia phiên tòa thì Hội đồng xét xử phải nêu rõ nguyên do và được ghi trong bạn dạng án.
BLTTHS năm 2015 bổ sung các nhân tố của vụ án phải được giải quyết khi nghị án (Nhân tố 326). Việc nghị án phải được tiến hành tại phòng nghị án. Chủ tọa phiên tòa chủ trì việc nghị án, từng yếu tố của vụ án phải được đưa ra để Hội đồng xét xử bàn bạc, quyết định.
Theo đó, bổ sung Các vấn đề của vụ án phải được khắc phục khi nghị án: Vụ án có thuộc trường phù hợp lâm thời đình chỉ hoặc thuộc trường phù hợp trả biển sơ để điều tra bổ sung hay không; tính hợp lí của những chứng cứ, tài liệu; có hay không có căn cứ kết tội bị cáo. Trường thích hợp đủ căn cứ cáo buộc thì phải xác định rõ điểm, khoản, nhân tố của Bộ luật hình sự được vận dụng; hình phạt, giải pháp tư pháp áp dụng đối với bị cáo; nghĩa vụ đền bù thiệt hại; điều dân sự trong vụ án hình sự; bị cáo có thuộc trường phù hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hay không; án phí hình sự, án phí dân sự; xử lý vật chứng; của nả bị kê biên, account bị phong tỏa; tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Dò la viên, Kiểm sát viên, người cãi trong giai đoạn thăm dò, truy nã tố, xét xử; kiến nghị phòng dự phòng tội nhân, giải quyết vi phạm.
Trường thích hợp vụ án có đa dạng cốt truyện tinh vi thì Hội đồng xét xử có thể quyết định kéo dài thời điểm nghị án nhưng không quá 7 ngày kể từ ngày hoàn thành tranh cãi tại phiên tòa.
Chấm dứt việc nghị án, Hội đồng xét xử phải quyết định một trong các yếu tố: Ra phiên bản án và tuyên án; quay về việc xét hỏi và tranh luận ví như có diễn biến vụ án chưa được xét hỏi, chưa được khiến cho sáng tỏ; trả biển sơ vụ án để Viện kiểm sát thăm dò bổ sung; đòi hỏi Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, bằng cớ; tạm thời đình chỉ vụ án.
Trường thích hợp phát hiện có việc bỏ lọt phạm nhân thì Hội đồng xét xử quyết định việc khởi tố vụ án theo luật pháp tại Vấn đề 18 và Yếu tố 153 của Bộ luật này.
Quy định này phù hợp với thực tại, bảo đảm việc giải quyết vụ án được chính xác, khách quan, đầy đủ.
Đọc thêm: váy ngủ gợi cảm đà nẵng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét